Tại phiên thảo luận tổ chiều 18/10 về nội dung tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm, Phó Chủ tịch Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ đã có những góp ý sâu sắc về tình hình phát triển kinh tế xã hội và các vấn đề liên quan.

I. Đánh giá tổng quan kết quả năm 2026 và yêu cầu chất lượng tăng trưởng năm 2027
Báo cáo 918 của Chính phủ đã khẳng định động lực tăng trưởng tích cực của nền kinh tế với các con số mang dấu hiệu khá tích cực, khả quan về bức tranh KTXH. Đây là nền tảng quan trọng để Chính phủ đề xuất mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số này và duy trì bền vững, không thể chỉ phụ thuộc vào việc gia tăng quy mô vốn hay mở rộng tín dụng đơn thuần. Mà cốt lõi nằm ở chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong nước.
Tôi quan tâm tới 2 nhóm vấn đề, cũng là 2 trong 3 đột phá chiến lược trong NQ ĐH Đảng toàn quốc lần thứ 14.
1. Cải cách thực chất thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả đầu tư
Thực tiễn cho thấy Việt Nam không thiếu cơ hội hay nhu cầu đầu tư, nhưng vướng mắc lớn nhất nằm ở khâu biến nguồn vốn thành năng lực sản xuất thực tế. Trong 9 tháng năm 2026, dù tổng vốn đầu tư xã hội tăng mạnh nhưng giải ngân vốn đầu tư công từ NSNN mới đạt gần 60% kế hoạch năm. Những vướng mắc liên ngành về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, thẩm định đầu tư, môi trường, PCCC và chi phí (xăng dầu, VLXD…)đang gây lãng phí chi phí cơ hội và chi phí tài chính rất lớn. Nếu mỗi cơ quan chỉ chịu trách nhiệm đối với một khâu mà không có đầu mối chịu trách nhiệm về toàn bộ tiến độ, thì một hồ sơ có thể hoàn thành từng bước nhưng tổng thời gian thực hiện dự án vẫn kéo dài.
1. Cải cách thực chất thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả đầu tư
Thực tiễn cho thấy Việt Nam không thiếu cơ hội hay nhu cầu đầu tư, nhưng vướng mắc lớn nhất nằm ở khâu biến nguồn vốn thành năng lực sản xuất thực tế. Trong 9 tháng năm 2026, dù tổng vốn đầu tư xã hội tăng mạnh nhưng giải ngân vốn đầu tư công từ NSNN mới đạt gần 60% kế hoạch năm. Những vướng mắc liên ngành về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, thẩm định đầu tư, môi trường, PCCC và chi phí (xăng dầu, VLXD…)đang gây lãng phí chi phí cơ hội và chi phí tài chính rất lớn. Nếu mỗi cơ quan chỉ chịu trách nhiệm đối với một khâu mà không có đầu mối chịu trách nhiệm về toàn bộ tiến độ, thì một hồ sơ có thể hoàn thành từng bước nhưng tổng thời gian thực hiện dự án vẫn kéo dài.
Để tạo đột phá cho năm 2027, tôi xin đề xuất 3 nhóm giải pháp cụ thể:
- Xây dựng cơ chế xử lý liên thông đối với các dự án trọng điểm: Chỉ định một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi toàn bộ tiến độ dự án hạ tầng, năng lượng, logistics, công nghệ cao; cho phép thực hiện song song các thủ tục hành chính và bắt buộc chia sẻ dữ liệu hợp lệ giữa các cơ quan.
- Chuyển đánh giá CCTTHC sang tiết kiệm thời gian và chi phí thực tế: mỗi bộ, ngành và địa phương công khai thời gian xử lý thực tế của những thủ tục có ảnh hưởng lớn đến đầu tư và sản xuất, kinh doanh; trong đó có đất đai, xây dựng, môi trường, cấp điện, thuế, hải quan và phòng cháy chữa cháy. Trong đó nội dung cần công bố gồm thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, số lần yêu cầu bổ sung hồ sơ, tỷ lệ giải quyết trực tuyến thực chất và mức độ hài lòng của người sử dụng. Đây cũng là cách kiểm chứng những kết quả cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ mà Chính phủ đã nêu trong báo cáo. Nếu chỉ tiêu trên văn bản giảm nhưng thời gian thực tế không giảm, thì phải được xác định đúng khâu gây ách tắc để xử lý.
- Đánh giá đầu tư công theo hiệu quả đầu ra: Tôi đồng tình với yêu cầu đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Nhưng cần khẳng định rằng giải ngân nhanh là điều kiện cần, không phải là thước đo đầy đủ của hiệu quả đầu tư. Một dự án được giải ngân 100% nhưng chậm đưa vào khai thác, phát sinh tổng mức đầu tư lớn hoặc không tạo ra nhu cầu sử dụng tương xứng thì hiệu quả kinh tế – xã hội vẫn thấp. Vì vậy, bên cạnh tiến độ giải ngân, đề nghị bổ sung các chỉ tiêu về thời gian hoàn thành, chi phí vượt dự toán, công suất sử dụng, mức giảm chi phí logistics, khả năng thu hút vốn tư nhân và tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Về nguồn nhân lực:
Hiện nội dung này đang được đánh giá chung tại mục 7 của Báo cáo 918 gắn với nhiệm vụ giáo dục và đào tạo. Để làm rõ tính chất cốt lõi của yếu tố nguồn nhân lực với vị trí đột phá chiến lược và đặt trong vai trò, mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phù hợp với bối cảnh mô hình đang vận hành, tôi xin đề xuất:
- (1) Cần đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực theo ngành, địa bàn và trình độ kỹ năng; tỷ lệ người học có việc làm đúng chuyên môn; năng suất lao động; mức độ thiếu hụt lao động kỹ thuật và kỹ năng số; hiệu quả liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. (Báo cáo nêu: Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2026 ước đạt 30%, vượt mục tiêu 29,5%; sinh viên các ngành STEM chiếm 29,6% quy mô đào tạo toàn hệ thống). Đây là những kết quả đáng ghi nhận, nhưng chưa đủ để khẳng định nguồn nhân lực đã đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao. Tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ không đồng nghĩa với khả năng làm việc thực tế; tỷ trọng sinh viên STEM cũng chưa phản ánh chất lượng đầu ra, mức độ phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp hay khả năng thương mại hóa tri thức.
- (2) Trong hệ thống giải pháp chung, cần đặc biệt quan tâm tới giải pháp gắn đột phá nguồn nhân lực với mục tiêu tăng trưởng trên 10% với tư cách là giải pháp cơ bản, then chốt và nền tảng của các giải pháp khác. Muốn vậy, cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên chương trình, chứng chỉ sang bồi dưỡng theo vị trí việc làm, năng lực thực hành và kết quả giải quyết công việc; cùng với đó là các cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài và tạo môi trường, động lực cho cán bộ có năng lực phù hợp với yêu cầu từng địa phương, lĩnh vực, ngành nghề. Nguồn nhân lực yếu hoặc không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư, hạn chế khả năng hấp thụ công nghệ, tăng chi phí sản xuất và khiến doanh nghiệp khó nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngược lại, nhân lực có kỹ năng, được sử dụng đúng năng lực sẽ giúp tăng năng suất, cải thiện thu nhập, tạo việc làm chất lượng và mở rộng sức mua trong nước.
- (3) Rà soát và có chính sách cho đội ngũ viên chức vì tính chất, ý nghĩa, vai trò, nhiệm vụ cũng không khác gì so với đội ngũ CBCC.
II. Về chủ thể người dân trong kịch bản tăng trưởng 2 con số và thực hiện mục tiêu chung, chỉ tiêu cụ thể
Hiện nay người dân phải đối mặt với nhiều khó khăn (Mục IV của Báo cáo cảnh báo)
- (1) Lạm phát: lạm phát tháng 9/2026 tăng 5,08% so với cùng kỳ; bình quân 9 tháng tăng 4,52%, đã tương đương mục tiêu lạm phát cả năm khoảng 4,5%. Giá xăng dầu tăng kéo theo chi phí vận tải, logistics và giá các mặt hàng thiết yếu như phân bón, vật liệu xây dựng, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm.
Với người hưởng lương cố định, lao động thu nhập thấp và người hưởng trợ cấp, giá hàng hóa tăng làm giảm sức mua, thu hẹp khả năng chi cho dinh dưỡng, học tập, chăm sóc sức khỏe và văn hóa.
Với nông dân, chi phí đầu vào tăng trong khi giá nông sản biến động khiến lợi nhuận bấp bênh, điển hình như vụ sản xuất vừa qua, sản xuất thủy sản, lúa gạo, cây ăn trái thực tế tại các cánh đồng và địa phương gặp nhiều khó khăn, ko có lợi nhuận. Cử tri phản ánh khá nhiều qua các hội nghị tiếp xúc cử tri. Điều này chứng tỏ, sản xuất tăng chưa chắc thu nhập tăng nếu thiếu hợp đồng tiêu thụ, kho bảo quản, chế biến, nhất là giá cả và sự chênh lệch giữa giá đầu vào – đầu ra.
Với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, chi phí đầu vào và vốn cao làm giảm khả năng duy trì sản xuất, tạo việc làm và tăng lương.
- (1) Lạm phát: lạm phát tháng 9/2026 tăng 5,08% so với cùng kỳ; bình quân 9 tháng tăng 4,52%, đã tương đương mục tiêu lạm phát cả năm khoảng 4,5%. Giá xăng dầu tăng kéo theo chi phí vận tải, logistics và giá các mặt hàng thiết yếu như phân bón, vật liệu xây dựng, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm.
Với người hưởng lương cố định, lao động thu nhập thấp và người hưởng trợ cấp, giá hàng hóa tăng làm giảm sức mua, thu hẹp khả năng chi cho dinh dưỡng, học tập, chăm sóc sức khỏe và văn hóa.
Với nông dân, chi phí đầu vào tăng trong khi giá nông sản biến động khiến lợi nhuận bấp bênh, điển hình như vụ sản xuất vừa qua, sản xuất thủy sản, lúa gạo, cây ăn trái thực tế tại các cánh đồng và địa phương gặp nhiều khó khăn, ko có lợi nhuận. Cử tri phản ánh khá nhiều qua các hội nghị tiếp xúc cử tri. Điều này chứng tỏ, sản xuất tăng chưa chắc thu nhập tăng nếu thiếu hợp đồng tiêu thụ, kho bảo quản, chế biến, nhất là giá cả và sự chênh lệch giữa giá đầu vào – đầu ra.
Với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, chi phí đầu vào và vốn cao làm giảm khả năng duy trì sản xuất, tạo việc làm và tăng lương.
- (2) Việc làm chưa bền vững, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Người lao động phi chính thức thường dễ bị tổn thương khi giá cả tăng hoặc sản xuất suy giảm, trong khi khả năng tiếp cận bảo hiểm và các cơ chế bảo vệ thu nhập còn hạn chế. Người lao động thiếu kỹ năng khó tiếp cận việc làm có năng suất, tiền lương và cơ hội thăng tiến tốt hơn. Điều này làm giảm khả năng tích lũy của gia đình, ảnh hưởng đến chất lượng sống và khả năng đầu tư cho thế hệ sau.
Người lao động phi chính thức thường dễ bị tổn thương khi giá cả tăng hoặc sản xuất suy giảm, trong khi khả năng tiếp cận bảo hiểm và các cơ chế bảo vệ thu nhập còn hạn chế. Người lao động thiếu kỹ năng khó tiếp cận việc làm có năng suất, tiền lương và cơ hội thăng tiến tốt hơn. Điều này làm giảm khả năng tích lũy của gia đình, ảnh hưởng đến chất lượng sống và khả năng đầu tư cho thế hệ sau.
- (3), (4) Ngoài ra, còn có một số khó khăn khác như: Tiếp cận y tế, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu còn chênh lệch; Nhà ở, điều kiện sống và đời sống tinh thần chưa theo kịp yêu cầu phát triển;
- (5) Cùng với những điểm nghẽn thực thi từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan đã làm giảm hiệu quả phục vụ Nhân dân và hiệu quả nguồn lực, quá trình đó làm phát sinh một số khó khăn, ảnh hưởng đến người dân và doanh nghiệp, đồng thời giảm niềm tin vào chất lượng phục vụ công.
Do đó, để người dân thực sự là chủ thể của mọi chủ trương, đảm bảo đúng nguyên tắc hướng về cơ sở, lấy sự hài lòng của người dân làm trung tâm, tôi kiến nghị cần quan tâm bổ sung vào một số giải pháp cuối 2026 và năm 2027:
- (1) Kiểm soát giá cả gắn với bảo vệ sức mua và chi phí sản xuất: Xây dựng cơ chế cảnh báo sớm biến động giá; liên kết tiêu thụ nông sản, giải quyết tốt các vấn đề về giá đầu vào – đầu ra, đảm bảo người dân sản xuất hiệu quả phải có lợi nhuận. Chủ động nguồn cung, kiểm soát đầu cơ, gian lận và tăng giá bất hợp lý. Rà soát tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ công đến hộ thu nhập thấp và có chính sách hỗ trợ có mục tiêu cho cácnhóm dễ tổn thương khi giá thiết yếu biến động mạnh.
- (2) Quan tâm đến các chính sách tạo việc làm bền vững, tăng thu nhập thực chất cho người lao động: Đánh giá kết quả bằng số việc làm bền vững, mức tăng thu nhập thực tế và tỷ lệ lao động được đào tạo phù hợp. Rà soát nhu cầu lao động theo ngành, địa bàn; kết nối việc làm, đào tạo ngắn hạn theo nhu cầu doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh duy trì hoạt động, giữ việc làm...
- (3) Đổi mới đánh giá tăng trưởng theo kết quả người dân thực sự nhận được: Chuyển mạnh từ đánh giá đầu vào, số lượng nhiệm vụ sang kết quả đầu ra: thu nhập thực tế, việc làm, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, chi phí thực hiện thủ tục và lấy mức độ hài lòng của người dân làm thước đo.