Sau 10 năm Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ) năm 2014 đi vào thực tiễn, không chỉ củng cố cơ sở pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân, mà còn góp phần duy trì trật tự xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, bảo đảm sự phát triển bền vững của gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của xã hội, một số quy định pháp luật về HNGĐ chưa theo kịp, cần phải được điều chỉnh để tiếp tục là lá chắn pháp lý vững chắc cho hạnh phúc nhân dân.

Người dân làm thủ tục về hộ tịch tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Trường Long, TP Cần Thơ. Ảnh: S.H
Bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em
Theo Bộ Tư pháp, từ năm 2015 đến nay, toàn quốc giải quyết hơn 6 triệu hồ sơ đăng ký kết hôn. Hầu hết các địa phương đều ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hộ tịch, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu điện tử thống nhất toàn quốc. Đặc biệt, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con được thực hiện nghiêm ngặt hơn, góp phần bảo đảm quyền nhân thân của trẻ em. Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giảm rõ rệt, tỷ lệ tảo hôn vùng dân tộc thiểu số giảm còn 11,8% (giảm bình quân 1,2%/năm).
Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Công tác Phụ nữ, Hội LHPNVN, nhận định: Luật HNGĐ năm 2014 công nhận lao động nội trợ ngang bằng lao động có thu nhập. Đây là điểm tựa pháp lý vững chắc giúp thay đổi vị thế của người phụ nữ trong các tranh chấp tài sản. Tại các phiên tòa ly hôn, việc phân chia tài sản không còn chỉ dựa trên số tiền đóng góp trực tiếp mà đã xét đến công sức đóng góp thầm lặng của người vợ trong việc duy trì tổ ấm. Điều này không chỉ bảo đảm công bằng kinh tế mà còn là sự tôn vinh phẩm giá phụ nữ.
Luật HNGĐ năm 2014 khẳng định nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, đồng thời gắn chặt với việc bảo vệ quyền làm mẹ của phụ nữ. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con; về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn; về cấp dưỡng… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em. Theo khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đây là quy định mang tính ưu tiên đặc thù, xuất phát từ đặc điểm sinh lý, tâm lý của trẻ em ở độ tuổi còn phụ thuộc nhiều vào sự chăm sóc của người mẹ, đồng thời thể hiện rõ chính sách pháp luật nhằm bảo vệ quyền làm mẹ của phụ nữ.
Đặc biệt, chế định "Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo" đã được triển khai thận trọng nhưng đầy hiệu quả. Nó không chỉ giải quyết khao khát chính đáng của các cặp vợ chồng hiếm muộn mà còn ngăn chặn được tình trạng trục lợi, thương mại hóa cơ thể con người - một thách thức đạo đức mà pháp luật đã xử lý rất tinh tế.
Những "nút thắt" pháp lý
Tuy nhiên, khi xã hội bước vào kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, luật HNGĐ hiện hành bắt đầu xuất hiện những vướng mắc.
Theo ông Đào Duy An, Tổng Thư ký Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam, một trong những vướng mắc phổ biến nhất trong thực tiễn công chứng là việc xác định ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Nguyên tắc suy đoán tài sản chung được Luật HNGĐ năm 2014 kế thừa từ Luật HNGĐ năm 2000 và tiếp tục phát huy vai trò bảo vệ bên yếu thế trong hôn nhân. Tuy nhiên, trong điều kiện pháp luật chưa có cơ chế đăng ký và công khai chế độ tài sản vợ chồng, nguyên tắc này lại trở thành nguồn gốc của nhiều rủi ro pháp lý. Thực tế cho thấy, nhiều tài sản được hình thành từ nguồn tiền riêng hoặc từ các giao dịch trước hôn nhân nhưng hoàn tất về mặt pháp lý trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất. Do đó, cần rà soát và điều chỉnh các quy định của pháp luật HNGĐ nhằm bảo đảm sự thống nhất nội tại giữa Luật HNGĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, cần khắc phục các điểm chưa đồng bộ liên quan đến việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản, tránh tình trạng các văn bản dưới luật làm thay đổi hoặc mở rộng nội dung của luật theo cách gây rủi ro cho chủ thể tham gia giao dịch.
Ông Nguyễn Văn Vũ, Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh, cũng chỉ rõ một số vấn đề mới phát sinh trong đời sống xã hội chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ, như: chuyển đổi giới tính, quan hệ đồng giới, tài sản số, tài sản ảo; thực tiễn còn gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và vì mục đích thương mại… Qua đó, kiến nghị hoàn thiện quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, bổ sung tiêu chí nhận diện hành vi thương mại hóa bị cấm; xem xét mở rộng có điều kiện đối với một số trường hợp có nhu cầu mang thai hộ chính đáng, phù hợp với thực tiễn xã hội. Đồng thời, kiến nghị Bộ Tư pháp và các cơ quan Trung ương nghiên cứu ban hành luật về chuyển đổi giới tính để có cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề liên quan hộ tịch, hôn nhân, gia đình của người đã chuyển đổi giới tính.
Ngoài ra, theo một số chuyên gia, sự xung đột giữa Luật HNGĐ với Luật Đất đai (về quyền sử dụng đất của hộ gia đình) hay Luật Trẻ em tạo ra những điểm "vênh", gây khó khăn cho người dân khi thực hiện quyền lợi hợp pháp. Tình trạng tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số, dù đã giảm, nhưng vẫn là "vết trầm" dai dẳng, cho thấy luật pháp cần sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ các thiết chế văn hóa và giáo dục địa phương.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh, Luật HNGĐ năm 2014 đã bảo đảm quyền tự do hôn nhân, quyền được sống trong môi trường gia đình hạnh phúc; thiết lập chuẩn mực pháp lý cho các quan hệ gia đình Việt Nam; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, nhất là phụ nữ, trẻ em và người yếu thế… Những vấn đề mang tính “điểm nghẽn”, rào cản và kiến nghị, đề xuất của các địa phương, chuyên gia, nhà khoa học cho sự phát triển của gia đình, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, cân nhắc tham mưu cấp có thẩm quyền, nhằm hoàn thiện pháp luật HNGĐ, hướng đến sự tiến bộ và hạnh phúc của mỗi gia đình Việt Nam.
PHI YẾN - BÁO ĐIỆN TỬ CẦN THƠ